Quà kèm đơn hàng chỉ đến đúng khách khi nơi phát biết ai đủ điều kiện và đơn nào đã nhận. Tại cửa hàng hay với đơn online, cách ghi nhận cần nối được món quà với lần trao. Làm rõ điều này trước giúp chọn mẫu và bố trí bàn giao phù hợp.

Đơn online cần kiểm quà cùng hàng chính, còn cửa hàng cần chỉ rõ quầy nhận và dữ liệu đối chiếu. Các cảnh AP trong bài là phương án dựng riêng để hình dung việc bàn giao, không phải chương trình đã thực hiện.
Chốt một bản điều kiện dùng chung cho các kênh
“Mua hàng được tặng quà” chưa đủ cho nhân viên thực hiện. Cần xác định giao dịch nào áp dụng, thời gian, số quà trên đơn hoặc người nhận và giới hạn tồn đã được duyệt.
| Điểm cần chốt | Khách cần thấy | Nhân viên làm gì | Ghi nhận gì |
|---|---|---|---|
| Điều kiện nhận | Giao dịch hoặc hành động được áp dụng | Đối chiếu với nguồn điều kiện đã duyệt | Mã chương trình và trạng thái đủ điều kiện |
| Số quà | Cách tính theo đơn, người hoặc quy tắc đã công bố | Lấy đúng mã và số lượng, không tự nhân quà | Mã quà, phiên bản và lượng xuất |
| Nơi nhận | Trong kiện, tại quầy hoặc điểm nhận cụ thể | Giao đúng vị trí và bước xác nhận | Kênh hoặc điểm thực hiện |
| Ngoại lệ | Đầu mối liên hệ và điều kiện đã được xác nhận | Chuyển người có quyền duyệt, không tự hứa đổi | Lý do, người duyệt và cách xử lý |
Đây là khung làm việc, chưa là thể lệ dùng nguyên văn. Điền điều kiện thật và chọn một bản chuẩn để website, biển quầy, phiếu đóng đơn và hướng dẫn nhân viên cùng dựa vào. Khi đổi ngày, phạm vi hoặc quà, giao rõ người cập nhật từng nơi.
Nếu cùng một đơn có thể nhận quà trong kiện hoặc tại cửa hàng, hai nơi cần đối chiếu cùng mã giao dịch và phương thức nhận đã chốt. Quầy xem cả bước đã đóng và đã trao trước khi lấy thêm quà. Khi dữ liệu chưa đồng bộ hoặc không tra được, ghi trường hợp chờ xác nhận và chuyển đầu mối; không coi việc chưa thấy trên màn hình là bằng chứng khách chưa nhận.
Ví dụ vận hành: mã quà A được phân cho đơn đủ điều kiện trên kênh online, mã B dành cho điểm nhận tại cửa hàng. Phiếu lấy hàng phải hiện mã cần lấy, không chỉ ghi “có quà”. A và B ở đây là mã giả định để thiết kế quy trình, không là chương trình đang chạy.
Chọn mẫu theo cách chứa, bảo vệ và bàn giao
Gallery túi canvas CV01 35×37 cm có ảnh túi đặt cạnh máy tính bảng để nhìn cách trình bày. Máy tính bảng là vật trong bối cảnh ảnh, không phải món kèm khi mua túi; cần thử với hàng chính của chương trình.
Khi cần phân quà theo giá trị đơn hoặc điểm bán, có thể chọn các nhóm quà tặng doanh nghiệp theo mức chi rồi kiểm riêng khả năng đóng và bàn giao từng món.

Kích thước: 35 * 37Ccm
TG sản xuất: 10 ngày
Góc miệng và quai túi giúp hỏi thao tác đặt hàng, xách và lấy quà. Kích thước ghi trên trang chưa thay việc thử cả bao bì, hộp và phụ kiện. Cách chọn túi theo sử dụng giúp chuẩn bị câu hỏi cho đúng mẫu.

Gallery ô gấp KQ-OD21 có ô in Traphaco, vỏ và hộp. Ảnh cho thấy cấu hình trình bày để trao; hộp in trong gallery chưa xác nhận mọi báo giá đều bao gồm hộp đó.

Kích thước: 30cm
TG sản xuất: 15 ngày
Góc ô đã gấp cho thấy vỏ bọc, dây giữ và tay cầm. Hãy chốt giao ô trong vỏ, thêm hộp hay đặt cùng hàng chính, rồi thử thao tác lấy tại quầy. Khi phân nhiều phiên bản, ghi khách được chọn hay nhận theo lô trước khi bày mẫu.

Cốc màu KQ-CSM09 là phương án cần kiểm bảo vệ thân và quai khi giao cùng đơn. Ảnh thật chưa có logo đặt riêng của chương trình; vùng in, màu cốc và vị trí phải duyệt bằng đúng mẫu.

TG sản xuất: 10 ngày
Trang mã KQ-CSM09 niêm yết cốc 330 ml, cao 9 cm và miệng 8,5 cm. Số đo miệng chưa gồm phần quai nhô ra. Khi thử chèn, đo cả bề ngang thân–quai và kiểm khoảng hở với hàng chính, thay vì chọn ngăn chỉ theo đường kính miệng.
Góc quai giúp xác định nơi cần khoảng hở trong chèn, không chứng minh cốc đã vượt thử nghiệm vận chuyển. Cần thử cả món, chèn và kiện theo điều kiện giao. Cảnh dựng ở phần đóng đơn bên dưới chỉ giải thích phương án, không xác nhận cấu hình hộp bán kèm.

Phân bổ theo điểm và tách trạng thái hàng
Gắn mã chương trình, mã quà và điểm nhận với lượng bàn giao trong hệ thống đang dùng. Tách hàng dành phát quà khỏi hàng bán thông thường; không tự đổi giá hoặc nhập quà như một giao dịch bán để thuận ghi sổ.
Phân biệt hàng sẵn sàng, dự phòng và chờ kiểm bằng vị trí cùng nhãn dễ đọc. Cảnh dựng dưới đây cho thấy ba trạng thái; nhân viên phải chuyển trạng thái đúng trước khi lấy, không coi hàng dự phòng hoặc chờ kiểm là hàng được tự phát.

Tính số lượng quà theo điểm cần dữ liệu hoặc giả định có ghi nguồn. Chốt ai duyệt dự phòng, điều chuyển và nhận hàng lại. Không cộng dự phòng ở nhiều đầu mối mà chưa kiểm trùng.
Khi một điểm gần hết, kiểm số đầu kỳ, số phát và giao dịch đủ điều kiện trước điều chuyển. Thiếu có thể đến từ nhu cầu cao, cách hiểu điều kiện rộng hoặc ghi nhận sót; bổ sung hàng không thay bước tìm chênh lệch.
Đóng quà vào đơn với bước kiểm riêng
Phiếu lấy hàng nên hiện trạng thái có quà, mã, phiên bản và số lượng. Người đóng gói dựa vào dữ liệu đã xác nhận, không đọc toàn bộ quảng cáo rồi tự quyết đơn đủ điều kiện.
Cảnh đặt cốc AP vào ngăn riêng dưới đây là phương án dựng để xem quan hệ với hàng chính. Cần giữ khoảng hở cho quai và kiểm cách chèn thực tế; hình này chưa là kết quả thử kiện hay đơn đã giao của KhoQua.

Với món cứng, dễ vỡ, có cạnh hoặc có khả năng rò rỉ, kiểm cách bảo vệ cả quà lẫn hàng bán. Nếu món cần bảo quản riêng, phải xác nhận khả năng đóng và vận chuyển trước đưa vào chương trình.
Sau đóng, ghi xác nhận gắn với mã đơn để đối chiếu thiếu quà. Chọn dữ liệu cần cho giao và đối soát theo chính sách doanh nghiệp; không lưu toàn bộ thông tin người mua chỉ để chứng minh đã bỏ quà vào kiện.
“Đã đóng quà” khác “đã giao kiện” và “đã trao tại quầy”. Giữ trạng thái riêng theo cách nhận, gắn với mã đơn hoặc giao dịch. Khi kiện bị hủy hoặc hoàn về, đối chiếu món thực nhận và tình trạng trước nhập lại; không tự cộng tồn chỉ vì đơn đã đổi trạng thái.
Bố trí quầy và chuyển ngoại lệ đúng người
Điểm nhận cần dễ tìm trước khi khách xếp hàng hoặc rời quầy. Chọn quầy thanh toán, dịch vụ hay khu riêng theo không gian; bố trí quà theo mã để nhân viên lấy mà không phải chạy vào kho từng món.
Trước mở quầy, chạy thử một giao dịch đủ điều kiện và một giao dịch ngoại lệ: nhân viên tìm điều kiện, lấy mã, ghi nhận rồi chuyển đúng đầu mối. Kiểm màn hình và biển quầy có cùng phiên bản. Đây là bước thử quy trình, không ghi như giao dịch khách thật.
Chỉ dẫn ngắn cần đủ ba ý: điều kiện nào được chấp nhận, mã quà nào tương ứng và trường hợp nào chuyển quản lý. Nếu thêm kênh hoặc điểm bán, kiểm khả năng ghi nhận của nơi mới theo cùng quy tắc.

Ngoại lệ khi hết quà hoặc đổi mẫu
Quà thay thế cần được duyệt về công dụng, cấu hình và cách thông báo. Giá ngang nhau chưa có nghĩa hai món tương đương. Chưa có phương án được duyệt thì ghi nhận yêu cầu và chuyển đầu mối, không tự hứa giao bù hoặc đổi tiền.
Ngoại lệ khi đơn thay đổi hoặc đổi trả
Đối chiếu điều kiện công bố và quy trình đã rà soát để xử lý quyền nhận, tình trạng quà và bước tiếp theo. Không mặc định khách luôn phải trả quà hoặc luôn được giữ; thông tin áp dụng cần dễ tìm trước khi mua.
Rà thể lệ và lời hứa trước ngày chạy
Người phụ trách cần đưa hình thức, đối tượng, điều kiện và cách phát cho bộ phận được giao rà soát chương trình. Không kết luận thủ tục chỉ từ câu “tặng kèm”, và không dùng hướng dẫn vận hành này thay kết luận cho trường hợp cụ thể.
Nguồn được đối chiếu ngày 05/10/2026 trên Cổng văn bản Chính phủ. Nghị định 239/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 81/2018/NĐ-CP đã được sửa đổi theo Nghị định 128/2024/NĐ-CP. Trang nguồn ghi hiệu lực từ 26/06/2026. Cần rà văn bản và trường hợp áp dụng trước công bố thể lệ, không suy mọi chương trình cùng một thủ tục.
Đối chiếu bản duyệt với trang bán, quảng cáo, biển quầy và tài liệu nhân viên. Các cam kết “luôn có quà”, “giao bù” hoặc “đổi tiền” chỉ được dùng nếu đúng nội dung đã được duyệt. Ghi phiên bản mới và xác nhận bảng cũ đã được thay.
Xem mẫu và hỏi giá theo cách trao
Ba thẻ mẫu cạnh phần túi, ô và cốc là lựa chọn riêng cho việc chứa hàng, phát món đã gấp hoặc giao món cần bảo vệ. Chọn theo người nhận và cơ chế trao, không mặc định ghép thành một bộ bán chung.
Chọn “Hỏi giá theo số lượng” để gửi đúng mẫu quan tâm. Khoảng giá trên thẻ lấy từ dữ liệu hiện hành; báo giá cuối cần chốt số lượng, phiên bản, logo, vỏ/hộp, phân điểm và ngày giao.
- Gửi hàng chính hoặc kích thước kiện để thử món quà đi kèm.
- Nêu cách nhận: trong kiện online, tại quầy hay một điểm khác.
- Gửi số lượng từng điểm, quy tắc chọn phiên bản và phần dự phòng cần báo giá.
- Gửi logo, ảnh bố cục mong muốn và người duyệt trước sản xuất.
Với quầy có ít diện tích, có thể xem thêm bút in logo rồi thử thao tác phát theo cùng điều kiện. Không chọn món nhỏ chỉ vì dễ xếp nếu người nhận chưa có nhu cầu.
Đối soát đúng mã và tách kết quả vận hành
Chốt mốc dừng, cách xử lý đơn đủ điều kiện chưa giao và nơi tập kết hàng còn. Cập nhật thông tin hết hiệu lực trên website và tại quầy để khách không tiếp tục nhận lời hứa cũ.
Tồn theo sổ cuối kỳ bằng tồn đầu kỳ cộng hàng nhận, điều chuyển vào và hàng thu hồi được phép nhập lại. Trừ lượng đã phát, điều chuyển ra và hàng hỏng/loại bỏ đã duyệt; đối chiếu với kiểm đếm thực tế theo từng mã và điểm.
Ví dụ giả định cho một mã tại một điểm: đầu kỳ 100, nhận thêm 20, điều chuyển vào 5; đã phát 70, điều chuyển ra 10 và loại bỏ 2 đã duyệt. Tồn theo sổ là 100 + 20 + 5 − 70 − 10 − 2 = 43. Nếu đếm được 41, còn chênh 2 cần tìm giao dịch hoặc biên bản; chưa được tự ghi thêm 2 món đã phát để làm khớp.
Khi còn quà, kiểm nội dung in, tình trạng và quyết định dùng lại. Đối soát sau chương trình giúp phân loại phần cần xử lý. Điều chuyển giữa hai điểm phải có cùng mã và lượng ở cả bên giao lẫn bên nhận; khi tổng hợp toàn chương trình, không tính chuyển nội bộ thành quà đã phát cho khách.
Ghi lượng phát, còn lại, đơn được đóng đúng và phản ánh về điều kiện nhận theo kỳ/kênh có dữ liệu tin cậy. Đánh giá kết quả quà tặng cần tách chỉ số vận hành khỏi tác động tới quyết định mua. Số quà phát chưa tự chứng minh doanh số tăng.
Khi hỏi cấu hình quà kèm đơn, gửi cơ chế trao, mẫu cần tư vấn và lượng theo điểm cho KhoQua. Khi cách nhận, cách ghi và cách xử lý ngoại lệ đã rõ, mới chốt vật phẩm và cấu hình in logo cho chương trình.
